Bài giới Thiệu sách: T/p: MƯA ĐỎ- N/v Chu Lai-TV THPT LÝ THƯỜNG KIỆT,LÂM ĐỒNG.nhân dịp kỉ niệm 80 năm ngày QUỐC KHÁNH VN
nhung-dieu-ban-nen-biet-ve-the-gioi-thuc-vat-song-ngu

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 08h:32' 05-03-2024
Dung lượng: 2.5 MB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 08h:32' 05-03-2024
Dung lượng: 2.5 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
Mục Lục
1- Root
2- Stem
3- Leaves
4- Reproductive parts of plants
5- Can one kind of tree produce the fruit of another kind of tree?
6- How Primitive Men Learnt to Grow Plants?
7- Bacteria
8- Lichens
9- Algae
10- Fungus
11- Moss
12- Ferns
13- Tree Ferns
14- Dicksonia Antarctica
15- Liverworts
16- Hornworts
17- Cycads
18- Gingko
19- Conifers
20- Douglas Fir
21- Scots pine
22- Giant Sequoia
23- Some of the flowering plants and trees
24- Deciduous trees
25- Poisonous plants
26- Insectivores and carnivores
27- Stinking plants
28- Stinging plants
29- Virginia Creeper
30- White Bryony
31- English Ivy
32- Bindweed
33- Water Hyacinths
34- Giant Sea Kelp
35- Water-Lily
36- Water Lettuce
37- Cotton
38- Rubber
39- Cocoa
40- Tea
41- Cinchona
42- Aloe Vera
43- Medicinal Plants
44- Bamboo
45- Banana
LỜI NÓI ĐẦU
Sách này trình bày dưới dạng song ngữ Anh - Việt những kiến thức căn
bản về thế giới thực vật nhằm giúp bạn đọc có điều kiện tiếp cận sự tiến
hóa đầy kỳ diệu của vô số các loài thực vật nảy mầm và tăng trưởng
trên trái đất của chúng ta.
Các chủ điểm của sách thật đa dạng như: sự tiến hóa của thực vật, vi
khuẩn, địa y, tảo và nấm, thực vật ngành rêu, thực vật hạt trần và hạt
kín v.v.
Cuối mỗi bài, sách có chú thích các cụm từ và mẫu câu nhằm giúp bạn
đọc cũng cố vốn từ vựng. Sách cũng có nhiều hình ảnh minh họa nhằm
làm sáng tỏ và phong phú hóa một số nội dung.
Ngoài ra, để luyện kỹ năng nghe hiểu cho bạn đọc, chúng tôi có kèm
đĩa CD gồm các bài đọc tiếng Anh, với nội dung được đọc chậm rãi để
bạn đọc tiện theo dõi.
Hy vọng rằng với nội dung phong phú, bố cục mạch lạc, sách sẽ là
nguồn tham khảo quý báu cho bạn đọc.
Chúc các bạn thành công.
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
EVOLUTION OF PLANTS
SỰ TIẾN HÓA CỦA THỰC VẬT
Có hơn 250,000 loài thực vật, bao gồm rêu, dương xỉ, tùng bách, các
thực vật có hoa, v.v. Thực vật đã có trên trái đất từ rất lâu. Chúng đã
xuất hiện lần đầu ở kỷ Ocdovic và không giống như những thực vật
ngày nay mãi cho đến cuối kỷ Silua. Trong Kỷ Đevon gần 360 triệu
năm trước đây, nhiều loại thực vật với hình dạng và kích thước khác
nhau đã xuất hiện, gồm cả những loài cây leo nhỏ li ti cho đến
những cây cao.
(There are more than 250,000 species of plants which include mosses,
ferns, conifers, flowering plants etc. Plants have been there for a very
long time. They first appeared in the Ordovician period and didn't
resemble modern plants till late in the Silurian period. By the
Devonian period nearly 360 million years ago, a large variety of
plants with different shapes and sizes appeared which included tiny
creepers and tall trees.)
The first plants didn't grow on land but in water. They were like
microscopic living beings which reproduced by splitting up and
gradually became more complex. Flagellates were so tiny that they
left no trace of their existence. It took many years for the flagellates to
develop into half plant and half animal, then separately into plants
and animal cells. According to the scientists plant life originated in
the sea more than two thousand million years ago.
Những thực vật đầu tiên không mọc trong đất mà trong nước. Chúng
giống như những sinh vật nhỏ li ti, sinh sản bằng cách chia tách và dần
dần đã trở nên phức tạp hơn. Tảo đuôi roi (flagellate) nhỏ đến nỗi
không còn lưu lại dấu vết về sự hiện diện của chúng. Phải mất nhiều
năm để tảo đuôi roi phát triển thành một dạng nửa thực vật nửa động
vật, sau đó dạng này tách ra thành các tế bào thực vật và động vật.
Theo các nhà khoa học, sự sống thực vật đã bắt nguồn ở biển từ hơn
hai tỉ năm trước đây.
During that period, the land was bare and without any sign of life. The first
living beings took nearly two and half thousand million years to develop into
a plant form. Algae were the first plants which spread all over the earth
wherever it found water. It was during the Silurian period that a great
upheaval took place when the crust of the Earth lifted the seabed out of
water. Thus the sea plants had to adapt themselves to survive. For millions of
years they vegetated in water but slowly and gradually when the water basins
dried up they found themselves in contact with air so they changed their
shape to suit to their surroundings. Later, the evolution of plants progressed
rapidly and within a span of 150 million years the algae transformed into
gigantic trees which formed the immense forests of the Carboniferous
period.
Trong thời kỳ này, đất đai còn trơ trụi và không có bất cứ dấu hiệu nào
của sự sống. Những sinh vật đầu tiên đã mất gần hai tỉ rưỡi năm để
phát triển thành dạng thực vật. Tảo là những thực vật đầu tiên lan rộng
ra khắp trái đất ở bất cứ nơi nào có nước. Trong kỷ Silua, có một sự
xáo trộn lớn diễn ra khi lớp vỏ trái đất nâng đáy biển lên khỏi mặt
nước. Do đó các thực vật biển đã tự thích nghi để sống sót. Trong nhiều
triệu năm, chúng đã sinh trưởng trong nước nhưng chậm và dần dần
khi các vùng nước khô đi, chúng tiếp xúc với không khí, do đó chúng đã
thay đổi hình dạng để thích nghi với môi trường xung quanh. Về sau, sự
tiến hoá của các thực vật diễn tiến nhanh và trong vòng 150 triệu năm,
tảo đã chuyển hoá thành những cây khổng lồ vốn tạo thành những khu
rừng mênh mông trong kỷ Carbon.
The first plants that emerged from marine algae were incapable of making
seeds to reproduce. So, spores were carried along by the wind and when they
fell on the ground they produced gametophytes which got rooted in the soil
and gave rise to egg cells and male cells, which when united a new plant was
born.
The spores needed damp ground and this type of plant could spread only in
marshy regions and lowlands filled with water while the drier places
remained bare. Another type of complex plants from another variety of
plants, were Equiseta, ferns and Lycopodiales which soon covered the earth
in a dense forest.
Những thực vật đầu tiên xuất hiện từ tảo biển không có khả năng tạo
hạt để sinh sản. Do đó, các bào tử được gió mang đi và khi rơi xuống
đất, chúng tạo ra những giao tử đâm rễ vào trong đất và mọc ra những
tế bào trứng và tế bào đực, những tế bào này kết hợp với nhau để sinh
ra một thực vật mới.
Các bào tử cần có nền đất ẩm và loại thực vật này chỉ phổ biến trong
những vùng đầm lầy và vùng đất thấp ngập nước trong khi những nơi
khô hơn vẫn còn trơ trụi. Một kiểu thực vật phức tạp khác từ những thứ
thực vật khác là tháp bút (Equiseta), dương xỉ (fern) và thạch tùng
(Lycopodiale), nhanh chóng bao phủ mặt đất trong một khu rừng dày
đặc.
Lycopodiale remains form most of the great coal beds of the earth Lycopodia
and other species thrived for a short period and then their trunks were blown
down by storms and gradually piled up and were changed to coal. The
Equiset or horse tails can be seen even today in sandy areas and barren lands.
The horsetails are the last descendants of the calamites which covered the
entire forest in prehistoric times. Nearly twenty five species of horsetails are
found at present in every part of the earth except Southern Asia. These
horsetails were like gigantic trees which in the process of degeneration
became smaller till it reached the dwarf size that we see today.
Những tàn tích của thạch tùng đã tạo thành những vỉa than đá lớn nhất
trên trái đất. Thạch tùng và các loài thực vật khác đã sống sót qua một
giai đoạn ngắn và sau đó thân cây bị gió bão thổi đổ và dần dần tích tụ
lại và biến đổi thành than đá. Cây tháp bút hay cây đuôi ngựa (horse
tail) ngày nay vẫn còn có thể thấy trong những vùng cát và những vùng
đất trơ trụi. Cây mộc tặc là hậu duệ cuối cùng của loài cây lô mộc
(calamite) đã từng bao phủ toàn bộ rừng trong thời kỳ tiền sử. Ngày
nay, có gần hai mươi loài cây mộc tặc đã được phát hiện ở nhiều nơi
trên thế giới, chỉ trừ ở Nam Á. Những cây đuôi ngựa này giống như
những cây khổng lồ mà theo tiến trình thoái hoá đã trở nên nhỏ hơn
cho đến khi đạt đến kích thước lùn nhỏ như ta thấy ngày nay.
The climate during that period, when the algae transformed into land plants,
was favourable; it was quite pleasant climate for the growth of plants. The
little plants gave rise to complex vegetation like the Giant Sigillaria which
were 23 metres high. The Gingko tree is the only survivor of the ancient
group of tree plants.
Flowers marked the last stage of evolution in the plant kingdom. They
appeared nearly 100 million years ago. This was an important landmark in
the evolution of plants. Thus the swarms of pollinating insects soon invaded
the land and gave the forests a new look where mammals had remained
hidden behind these plants for million of year.
Khí hậu trong thời kỳ đó khi tảo biến đổi thành các thực vật trên cạn, là
rất thuận lợi; đó là loại khí hậu rất thích hợp cho sự tăng trưởng của
thực vật. Những thực vật nhỏ đã biến đổi thành thứ thực vật phức tạp
hơn như cây Sigillaria khổng lồ cao đến 23 m. Cây bạch quả (gingko)
là cây duy nhất còn sót lại trong nhóm các thực vật thân gỗ cổ xưa.
Hoa đã đánh dấu giai đoạn tiến hoá cuối cùng trong giới thực vật.
Chúng xuất hiện gần 100 triệu năm trước đây. Đó là một dấu mốc quan
trọng trong sự tiến hoá của thực vật. Theo đó, những đàn côn trùng thụ
phấn hoa đã nhanh chóng xâm lấn mặt đất và tạo cho những khu rừng
một cảnh quan mới nơi mà các động vật có vú đã ẩn mình sau những
thực vật đó trong nhiều triệu năm.
Plants are the only living things on the earth that can make their own food.
Animals are directly or indirectly dependent upon plants. A typical plant is
made up of roots and shoots which include stem, leaves and branches. The
branches bear flowers and fruits.
Thực vật là những sinh vật duy nhất trên trái đất có thể tự tạo ra thức
ăn cho mình. Động vật phụ thuộc trực tiếp hay gián tiếp vào thực vật.
Một thực vật tiêu biểu được tạo thành từ các rễ và các chồi, bao gồm
thân, lá và cành. Các cành mang hoa và quả.
1 Root
Roots provide support to the plant and enable it to hold onto the soil firmly.
They help the plants to absorb water and nutrients from the soil. The tips of
the roots are protected by the root cap and they are deeply rooted in the soil.
Rễ
Rễ tạo ra sự chống đỡ cho thực vật và giúp nó bám chắc vào trong đất.
Rễ giúp cho thực vật hấp thu nước và các dưỡng chất từ đất. Đầu mút
của các rễ được bảo vệ bằng các chóp rễ và chúng ăn sâu trong đất.
2 Stem
Some stems are tender while some are tough. The stem supports the
branches and leaves, and it provides all the ingredients to the plants to
manufacture their food. Stems have a vascular system which consists of two
kinds of tissues- xylem and phloem which carry the necessary roots food and
water prepared by the leaves to other parts of the plant. Xylem is made from
dead woody material and it carries Plant water from the roots to the rest of
the plant. Carbon dioxide enters the plant through the stomata where
photosynthesis takes place and oxygen is released. The water evaporates
through the individual cells below each stoma. Xylem helps in transporting
water and nutrients from the soil to the various parts of a plant. Phloem is
more complex than xylem as it consists of sieve tubes joined together from
one end to another end. It transports the carbohydrates made in leaves to
every living cell in the plant through a process known as translocation.
Phloem cells are able to survive as they are sustained by companion cells
which lie between sieve tube elements. It has a nucleus and a number of
mitochondrias which produce cells energy. The outer wall of the plant cell
consists of a membrane which is selectively permeable. Substance leave and
enter through active transport system.
Thân
Một số thân thực vật mềm yếu trong khi một số khác lại dai chắc. Thân
chống đỡ cho cành và lá, và cung cấp tất cả các thành phần mà thực
vật cần để sản xuất ra thức ăn của nó. Thân có một hệ mạch nhựa bao
gồm hai loại mô xylem và mô libe vận chuyển thức ăn và nước cần thiết
từ rễ, đã được các lá chuẩn bị, đến các phần khác còn lại của thực vật.
Xylem được cấu tạo từ chất liệu gỗ chết và nó vận chuyển nước từ rễ
đến các phần còn lại của thực vật. Carbon điôxit đi vào thực vật qua
các khí khổng, là nơi mà sự quang hợp diễn ra và giải phóng ra ôxi.
Nước bốc hơi qua các tế bào riêng rẽ bên dưới từng khí khổng. Xylem
giúp cho việc vận chuyển nước và các dưỡng chất từ đất đến các phần
khác nhau của thực vật. Mô libe phức tạp hơn xylem vì nó gồm nhiều
ống sàng được nối với nhau từ đầu ống này sang đầu ống kia. Libe vận
chuyển dioxcác carbon hydrát đã được sản xuất trong lá đến từng tế
bào sống trong thực vật thông qua một quá trình được gọi là sự chuyển
vị. Các tế bào libe có thể sống sót vì chúng được duy trì liên tục bởi các
tế bào kèm theo nằm giữa các thành phần ống sàng. Tế bào libe có một
nhân và một số ti lạp thể tạo thành các tế bào năng lượng. Thành ngoài
của tế bào thực vật gồm một màng có tính thấm chọn lọc. Vật chất đi
vào và đi ra thông qua hệ thống vận chuyển tích cực.
3 Leaves
Leaves are the green parts of a plant. They are made up of numerous tiny
packets known as cells. The leaf is attached to the plant by a stalk or a
petiole, and through the mid part of a leaf run veins which not only support
the leaf but also carry water and nutrients to all the cells of the leaf. A leaf is
made up of two parts- an epidermis and a mesophyll. The epidermis is the
outer layer found on the upper and lower surfaces of a leaf while the
mesophyll and parenchyma lie between these surfaces. The leaves help the
plant to make its food through the process of photosynthesis. The leaves
absorb carbon dioxcaùcide from the atmosphere and roots absorb water and
nutrients from the soil; the stem carries the water and nutrients to the leaves,
here with the help of sunlight chlorophyll (a green pigment in the cells of
leaves) converts carbon dioxide and water to produce glucose and release
oxygen as a waste product.
Lá
Lá là những phần màu lục của thực vật. Chúng được tạo thành từ nhiều
gói nhỏ gọi là các tế bào. Lá gắn vào thực vật bằng cọng hay cuống lá
và có những gân lá chạy qua phần giữa của lá. Gân không chỉ để nâng
đỡ lá mà còn vận chuyển nước và các dưỡng chất đến tất cả các tế bào
của lá. Lá được cấu tạo từ hai phần – một lớp biểu bì và phần thịt lá.
Biểu bì là lớp bên ngoài ở các bề mặt bên trên và bên dưới của lá,
trong khi thịt lá là nhu mô nằm giữa các bề mặt đó. Lá giúp cho thực
vật sản xuất thức ăn của nó thông qua một quá trình gọi là sự quang
hợp. Các lá hấp thu nước và các dưỡng chất từ đất; thân vận chuyển
nước và các dưỡng chất đến lá; ở đó, với sự hỗ trợ của ánh sáng mặt
trời, chất diệp lục (sắc tố màu lục trong các tế bào lá) biến đổi carbon
điôxit và nước để tạo ra glucose và giải phóng ôxy như một sản phẩm
thải.
4 Reproductive parts of plants
It is the flowers which carry out the function of reproduction in plants. The
female part of a flower is known as carpel and the male part is known as
stamen. A yellow coloured dust known as pollen is produced by the stamen,
while female cells (ovules) are produced by the carpel. The pollen grains get
carried to the female part by the wind, birds, animals and insects. The entire
process is referred to as pollination. The pollen grain in the ovules fertilises
and it develops into seeds. A seed is a reproductive part which has the
embryo plant and the stored food for the plant. Not all seeds grow into new
plants; only when the conditions are suitable and they are not destroyed by
animals, in-sects or birds do they sprout into new plants. Some of the plants
grow through vegetative propagation like radish, carrot, onion, potato etc.
The vegetative propagation is a way by which some plants can survive the
winters. The part of the plant above the ground dies but it remains alive in
the form of a corn bulb, tuber or rhizome.
Các bộ phận sinh sản của thực vật
Hoa thực hiện chức năng sinh sản trong thực vật. Phần cái của một hoa
được gọi là lá noãn và phần đực được gọi là nhị hoa. Một thứ bụi màu
vàng được gọi là phấn hoa được nhị hoa tạo ra, trong khi các tế bào
cái (các noãn) được lá noãn tạo ra. Các hạt phấn hoa được mang đến
phần cái bởi gió, chim, các động vật và côn trùng. Toàn bộ quá trình
được gọi là sự thụ phấn. Hạt phấn hoa trong các noãn thụ phấn và phát
triển thành các hạt giống. Hạt giống là bộ phận sinh sản có chứa phôi
thực vật và thức ăn dự trữ cho thực vật. Không phải tất cả các hạt
giống đều mọc thành cây; chỉ khi có những điều kiện thích hợp và
không bị hủy hoại bởi các động vật, côn trùng hay chim thì chúng mới
nẩy mầm thành một thực vật mới. Một số thực vật phát triển bằng sự
nhân giống sinh dưỡng như cây củ cải, cà rốt, hành, khoai tây, v.v.
Nhân giống sinh dưỡng là phương thức mà qua đó một số thực vật có
thể sống sót qua mùa đông. Phần thực vật ở bên trên mặt đất chết đi
nhưng thực vật vẫn còn sống ở dạng một củ, thân hay thân rễ.
Another important contribution of plants is that they shape the environment.
They are found everywhere from the tundra to the rainforests, to the deserts
and everywhere except the arctic wastelands. It is the plant which maintains
the terrestrial environment.
Scientists have divided plants into
- Algae
- Mosses and liverworts
- Ferns
- Bryophytes
- Pteridophytes
- Angiosperms
- Gymnosperms
We will discuss them further in this book.
Gradually botanists came to know about more and more plants and they
grouped these plants into various groups. Carolus Linnaeus (1707-78) a
Swedish naturalist was the first scientist to group plants according to the
number and type of stamens and pistils on their flowers. Linnaeus system
gave each plant two names, the first one indicated the genus or the family
while the second one indicated the species or a particular member of the
family. After some years this classification was replaced by a more accurate
one.
Một sự đóng góp quan trọng khác của các thực vật là chúng tạo nên
môi trường. Thực vật có ở khắp mọi nơi, từ các lãnh nguyên cho đến
các rừng mưa nhiệt đới, các sa mạc và bất cứ nơi nào, chỉ trừ những
miền địa cực hoang vu. Chính thực vật đã duy trì môi trường sống trên
mặt đất.
Các nhà khoa học đã phân chia thực vật thành
- Tảo
- Rêu và rêu tản
- Dương xỉ
- Thực vật hạt trần
- Thực vật ngành rêu
- Thực vật không hoa
- Thực vật hạt kín
Chúng ta sẽ bàn kỹ hơn về chúng trong sách này.
Dần dần các nhà thực vật học biết được ngày càng nhiều thứ thực vật
hơn và họ đã nhóm những thực vật này thành nhiều nhóm khác nhau.
Nhà tự nhiên học người Thụy Điển Carolus Linnaeus (1707 -78) là nhà
khoa học đầu tiên nhóm các thực vật theo số lượng và loại lá noãn và
nhụy hoa trên hoa của chúng. Hệ thống của Linnaeus gán cho mỗi thực
vật hai tên, tên thứ nhất để chỉ giống hay họ thực vật trong khi tên thứ
hai để chỉ loài hay một thành viên cụ thể trong họ. Sau vài năm, cách
phân loại này đã được thay thế bởi một cách phân loại chính xác hơn.
5 Can one kind of tree produce the fruit of another kind of
tree?
Yes, by the simple method of grafting, which is a technique of attaching the
part of one plant to another. There are many techniques of grafting from
inserting a single bud under the bark to grafting long twigs across the wound
of a tree so that it heals the wounds on the bark.
Grafting helps produce better quality fruits.
Một loại cây có thể tạo ra quả của một loại cây khác
hay không?
Có, bằng phương pháp ghép đơn giản, là một kỹ thuật để gắn một phần
của một thực vật vào thực vật khác. Có nhiều kỹ thuật ghép cây: từ việc
chèn một chồi đơn vào bên dưới vỏ cây cho đến ghép các nhánh dài
qua vết thương của một cây để làm lành lặn các vết thương trên vỏ cây.
Việc ghép cây cho ra những quả có chất lượng tốt hơn.
6 How Primitive Men Learnt to Grow Plants?
The primitive men living on the Earth did not know how to grow plants.
Thus they spent the entire day hunting or gathering fruit and seeds which
ripened naturally in the forests. During summer season plenty of fruits and
seeds were available while during winter there were plants which had no
fruits. Later on, man discovered that there were other plants which can save
him from starvation. These were woodland plants with dry fruits which
didn't wither away in winter e.g. hazel trees, chestnuts, oak and walnuts.
Many of these types of trees have been found in the lake settlements which
revealed that these fruits were important for primitive man. During early
times the cave dwellers only gathered barley and wheat which grew in the
forests. As these foods could be kept for longer duration, they took these
cereals along with them while wandering through the woods, but before
proceeding for a journey they always scattered a few grains to impress the
almighty. After winter when they went back to the places where they had
stayed earlier they were astonished to see that the grains had risen into new
plants. Thus they learnt how to grow new plants. Thus cultivation of corn
started.
Con người nguyên thủy đã học cách trồng cây như thế
nào?
Những người nguyên thuỷ sinh sống trên trái đất không biết cách trồng
cây. Do đó họ đã bỏ ra cả ngày để săn bắt hay hái lượm quả hay hạt
chín tự nhiên trong những khu rừng. Vào mùa hè có nhiều quả và hạt
trong khi vào mùa đông, các thực vật không có quả. Về sau, con người
đã phát hiện ra rằng có những thứ thực vật khác có thể giúp cho họ
khỏi bị đói. Đó là những thực vật mọc trong rừng có quả khô không bị
héo quắt vào mùa đông chẳng hạn như là hạt phỉ, hạt dẻ, sồi và hạt óc
chó. Nhiều loại cây này đã được tìm thấy trong những vùng định cư bên
hồ, cho thấy rằng những thứ quả này là quan trọng đối với con người
nguyên thủy. Trong những thời kỳ đầu, người sống trong hang chỉ có
thể hái lượm lúa mạch và lúa mì mọc trong rừng. Vì những thực phẩm
này có thể được lưu giữ trong thời gian dài, họ đã mang theo các hạt
ngũ cốc này bên mình khi đi lang thang qua những khu rừng, nhưng
trước khi bắt đầu một chuyến đi, họ thường vung vãi một ít hạt để nhớ
ơn Thượng đế. Sau mùa đông, khi họ quay về nơi chốn cư trú trước đó,
họ ngạc nhiên vì thấy các hạt ngũ cốc đã mọc lên thành những cây mới.
Từ đó họ đã học được cách trồng những cây mới. Việc trồng trọt hoa
màu đã bắt đầu từ đó.
INTERESTING FACT
Sự kiện đáng chú ý
The art of bonsai - Bonsai is the art of keeping a tree to a dwarf size.
This art originated in China nearly 1000 years ago but was made
popular by the Japanese. Bonsai is a Japanese word meaning 'tray
plantation'. Bonsai pots are usually earthen ware.
Nghệ thuật bonsai
– Bonsai là nghệ thuật nuôi giữ cây với một kích thước thu nhỏ. Nghệ
thuật này có nguồn gốc từ Trung quốc gần 1000 năm trước đây, nhưng
đã trở nên phổ biến ở Nhật. Bonsai là một từ tiếng Nhật có nghĩa là
“trồng trong khay”. Những chậu Bonsai thường là chậu bằng đất nung.
CHÚ THÍCH TỪ VỰNG
Tiny creepers:những loài cây leo nhỏ li ti
Flagellate:tảo đuôi roi
Plants and animal cells:tế bào thực vật và
động vật
Algae:tảo
Marshy regions:những vùng đầm lầy
Equiset:cây tháp bút
Gingko tree:cây bạch quả
Stomata:khí khổng
Photosynthesis:sự quang hợp
Translocation:sự chuyển vị
Mitochondrias:ti lạp thể
Pollination:sự thụ phấn
Techniques of grafting:kỹ thuật ghép cây
BACTERIA, LICHENS, ALGAE, AND FUNGUS
VI KHUẨN, ĐỊA Y, TẢO VÀ NẤM
7 Bacteria
Bacteria are minute organisms and the lowest members of the plant
kingdom. They are nearly 0.0001 millimeters in diameter. Some of them are
so small that they cannot be seen without the help of a microscope. Bacteria
has no membrane with an enclosed nucleus mitochondria or chloroplasts. It
has a single chromosome. Bacteria is usually found in one of the three
shapes
- coci -the ball shaped
- bacilli -the rod shaped
- spirilla - the cork screw
Under favourable conditions, they reproduce by splitting into two. Bacteria
are single-cell organisms which bring about decay in dead plants and
animals and break them into simple compounds. Bacteria are found
everywhere, even in our bodies and it cannot be seen with the naked eye.
Certain bacteria are very useful as they cause fermentation and help the milk
to curdle.
They combine with nitrogen and other elements to make some useful compounds for plants. Vinegar and certain antibiotics are also prepared from
bacteria. Thus we see that they are both useful as well as harmful to us.
Vi khuẩn
Vi khuẩn là những sinh vật nhỏ và là những thành viên bậc thấp nhất
trong giới thực vật. Vi khuẩn có đường kính khoảng 0.0001 milimét.
Một số loại vi khuẩn nhỏ đến mức chỉ có thể nhìn thấy chúng qua kính
hiển vi. Vi khuẩn không có màng tế bào với một nhân ti lạp thể hay lạp
lục đóng kín. Nó có một nhiễm sắc thể đơn. Vi khuẩn thường được thấy
ở một trong ba dạng:
- Cầu khuẩn (coci) – dạng hình cầu
- Trực khuẩn (bacilli) – dạng hình que
- Xoắn khuẩn (sourilla) – dạng hình xoắn
Trong những điều kiện thuận lợi, chúng sinh sản bằng cách chia tách
thành hai. Vi khuẩn là những sinh vật đơn bào gây thối rữa và làm chết
các thực vật và động vật rồi phân cắt chúng thành những hợp chất đơn
giản. Vi khuẩn có ở khắp mọi nơi, ngay cả trong cơ thể của chúng ta và
nó không thể được nhìn thấy được bằng mắt thường. Một số loại vi
khuẩn rất có ích vì chúng gây ra sự lên men và giúp làm đông sữa.
Vi khuẩn kết hợp với nitơ và các nguyên tố khác để tạo ra một số hợp
chất hữu ích cho các thực vật. Giấm và một số kháng sinh cũng được
điều chế ra từ vi khuẩn. Do đó, ta thấy rằng vi khuẩn vừa có ích vừa có
hại cho chúng ta.
8 Lichens
Lichens are unusual creations as they are not a single organism but a
combination of algae and fungus. They live together, the algae is enclosed
inside a fungus. Since algae has chlorophyll, with the help of sunlight it is
able to make its food which is used even by fungus. The fungus provides
anchorage to algae so that it easily absorbs the nutrients and water. Lichens
mostly live on rocks, walls and trunks of the tree. This partnership of fungus
and algae is known as symbiosis.
Địa y
Địa y là những tạo vật khác thường vì chúng không phải là một sinh vật
riêng biệt mà là một tổ hợp của tảo và nấm. Chúng sống cùng nhau, tảo
được bao bọc bên trong nấm. Vì tảo có diệp lục tố, với sự hỗ trợ của
ánh nắng mặt trời nó có thể sản xuất ra thức ăn cho cả nấm sử dụng.
Nấm cung ứng nơi neo đậu cho tảo để tảo có thể hấp thu dễ dàng các
dưỡng chất và nước. Địa y sống chủ yếu ở trên đá, trên các bức tường
và các khúc cây. Sự cộng tác giữa nấm và tảo được gọi là sự cộng sinh.
9 Algae
Algae are a diverse group of primarly aquatic plant like organisms which
were previously classified as a primitive subkingdom of the plant kingdom
called the 'thallophytes'. But at present they have been classified into another
major group known as 'eukarya' which includes animals and the higher
plants. Algae have chlorophyll and can manufacture their own food through
photosynthesis. They are found in polluted water, in seas, rivers and lakes,
on soils and walls, in animals and plants; in fact everywhere. The simplest
algae are single cells. The more complex one co-sists of many cells grouped
in a colony which is spherical in shape, e.g. Volvox.
Seaweeds are algae that are found in the sea or brackish water. Seaweeds are
of three basic colours- red, brown and green. Most seaweeds remain
submerged under the sea but during the low tides they are exposed to the
sun. Seaweeds use the energy of sun to carry on the process of
photosynthesis which helps them to oxygenate the water.
Algae are usually fish food, and they also supply oxygen to water through
photosynthesis.
Tảo
Tảo là một nhóm đa dạng các thực vật chủ yếu sống ở nước như những
sinh vật vốn trước đây được phân loại thành một giới phụ gọi là “ thực
vật có tản” (thallophytes). Nhưng hiện nay, chúng được phân loại vào
nhóm chính gọi là “eukarya” gồm các động vật và thực vật bậc cao
hơn. Tảo có diệp lục tố và có thể tự sản xuất ra thức ăn cho mình thông
qua sự quang hợp. Tảo được tìm thấy trong nước bị ô nhiễm, trong
biển, sông và hồ, trên đất, trên các bức tường, trong các động vật và
thực vật; trong thực tế là ở khắp mọi nơi. Loại tảo đơn giản nhất là tảo
đơn bào. Những loại tảo phức tạp hơn gồm nhiều tế bào được nhóm lại
thành một quần thể có dạng hình cầu chẳng hạn như tảo Volvox. Rong
biển là tảo được thấy ở biển hay những vùng nước mặn.
Rong biển có ba màu cơ bản là đỏ, nâu và lục. Hầu hết rong biển đều
ngập chìm trong nước nhưng vào những lúc thuỷ triều xuống, chúng
phơi ra ánh nắng. Rong biển sử dụng năng lượng của mặt trời để thực
hiện quá trình quang hợp giúp chúng thải ôxy vào nước.
Tảo thường là thức ăn cho cá và chúng cũng cung cấp ôxy cho nước
thông qua sự quang hợp.
10 Fungus
Fungus or Fungi include some of the most important organisms which play a
vital role in maintaining the...
1- Root
2- Stem
3- Leaves
4- Reproductive parts of plants
5- Can one kind of tree produce the fruit of another kind of tree?
6- How Primitive Men Learnt to Grow Plants?
7- Bacteria
8- Lichens
9- Algae
10- Fungus
11- Moss
12- Ferns
13- Tree Ferns
14- Dicksonia Antarctica
15- Liverworts
16- Hornworts
17- Cycads
18- Gingko
19- Conifers
20- Douglas Fir
21- Scots pine
22- Giant Sequoia
23- Some of the flowering plants and trees
24- Deciduous trees
25- Poisonous plants
26- Insectivores and carnivores
27- Stinking plants
28- Stinging plants
29- Virginia Creeper
30- White Bryony
31- English Ivy
32- Bindweed
33- Water Hyacinths
34- Giant Sea Kelp
35- Water-Lily
36- Water Lettuce
37- Cotton
38- Rubber
39- Cocoa
40- Tea
41- Cinchona
42- Aloe Vera
43- Medicinal Plants
44- Bamboo
45- Banana
LỜI NÓI ĐẦU
Sách này trình bày dưới dạng song ngữ Anh - Việt những kiến thức căn
bản về thế giới thực vật nhằm giúp bạn đọc có điều kiện tiếp cận sự tiến
hóa đầy kỳ diệu của vô số các loài thực vật nảy mầm và tăng trưởng
trên trái đất của chúng ta.
Các chủ điểm của sách thật đa dạng như: sự tiến hóa của thực vật, vi
khuẩn, địa y, tảo và nấm, thực vật ngành rêu, thực vật hạt trần và hạt
kín v.v.
Cuối mỗi bài, sách có chú thích các cụm từ và mẫu câu nhằm giúp bạn
đọc cũng cố vốn từ vựng. Sách cũng có nhiều hình ảnh minh họa nhằm
làm sáng tỏ và phong phú hóa một số nội dung.
Ngoài ra, để luyện kỹ năng nghe hiểu cho bạn đọc, chúng tôi có kèm
đĩa CD gồm các bài đọc tiếng Anh, với nội dung được đọc chậm rãi để
bạn đọc tiện theo dõi.
Hy vọng rằng với nội dung phong phú, bố cục mạch lạc, sách sẽ là
nguồn tham khảo quý báu cho bạn đọc.
Chúc các bạn thành công.
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
EVOLUTION OF PLANTS
SỰ TIẾN HÓA CỦA THỰC VẬT
Có hơn 250,000 loài thực vật, bao gồm rêu, dương xỉ, tùng bách, các
thực vật có hoa, v.v. Thực vật đã có trên trái đất từ rất lâu. Chúng đã
xuất hiện lần đầu ở kỷ Ocdovic và không giống như những thực vật
ngày nay mãi cho đến cuối kỷ Silua. Trong Kỷ Đevon gần 360 triệu
năm trước đây, nhiều loại thực vật với hình dạng và kích thước khác
nhau đã xuất hiện, gồm cả những loài cây leo nhỏ li ti cho đến
những cây cao.
(There are more than 250,000 species of plants which include mosses,
ferns, conifers, flowering plants etc. Plants have been there for a very
long time. They first appeared in the Ordovician period and didn't
resemble modern plants till late in the Silurian period. By the
Devonian period nearly 360 million years ago, a large variety of
plants with different shapes and sizes appeared which included tiny
creepers and tall trees.)
The first plants didn't grow on land but in water. They were like
microscopic living beings which reproduced by splitting up and
gradually became more complex. Flagellates were so tiny that they
left no trace of their existence. It took many years for the flagellates to
develop into half plant and half animal, then separately into plants
and animal cells. According to the scientists plant life originated in
the sea more than two thousand million years ago.
Những thực vật đầu tiên không mọc trong đất mà trong nước. Chúng
giống như những sinh vật nhỏ li ti, sinh sản bằng cách chia tách và dần
dần đã trở nên phức tạp hơn. Tảo đuôi roi (flagellate) nhỏ đến nỗi
không còn lưu lại dấu vết về sự hiện diện của chúng. Phải mất nhiều
năm để tảo đuôi roi phát triển thành một dạng nửa thực vật nửa động
vật, sau đó dạng này tách ra thành các tế bào thực vật và động vật.
Theo các nhà khoa học, sự sống thực vật đã bắt nguồn ở biển từ hơn
hai tỉ năm trước đây.
During that period, the land was bare and without any sign of life. The first
living beings took nearly two and half thousand million years to develop into
a plant form. Algae were the first plants which spread all over the earth
wherever it found water. It was during the Silurian period that a great
upheaval took place when the crust of the Earth lifted the seabed out of
water. Thus the sea plants had to adapt themselves to survive. For millions of
years they vegetated in water but slowly and gradually when the water basins
dried up they found themselves in contact with air so they changed their
shape to suit to their surroundings. Later, the evolution of plants progressed
rapidly and within a span of 150 million years the algae transformed into
gigantic trees which formed the immense forests of the Carboniferous
period.
Trong thời kỳ này, đất đai còn trơ trụi và không có bất cứ dấu hiệu nào
của sự sống. Những sinh vật đầu tiên đã mất gần hai tỉ rưỡi năm để
phát triển thành dạng thực vật. Tảo là những thực vật đầu tiên lan rộng
ra khắp trái đất ở bất cứ nơi nào có nước. Trong kỷ Silua, có một sự
xáo trộn lớn diễn ra khi lớp vỏ trái đất nâng đáy biển lên khỏi mặt
nước. Do đó các thực vật biển đã tự thích nghi để sống sót. Trong nhiều
triệu năm, chúng đã sinh trưởng trong nước nhưng chậm và dần dần
khi các vùng nước khô đi, chúng tiếp xúc với không khí, do đó chúng đã
thay đổi hình dạng để thích nghi với môi trường xung quanh. Về sau, sự
tiến hoá của các thực vật diễn tiến nhanh và trong vòng 150 triệu năm,
tảo đã chuyển hoá thành những cây khổng lồ vốn tạo thành những khu
rừng mênh mông trong kỷ Carbon.
The first plants that emerged from marine algae were incapable of making
seeds to reproduce. So, spores were carried along by the wind and when they
fell on the ground they produced gametophytes which got rooted in the soil
and gave rise to egg cells and male cells, which when united a new plant was
born.
The spores needed damp ground and this type of plant could spread only in
marshy regions and lowlands filled with water while the drier places
remained bare. Another type of complex plants from another variety of
plants, were Equiseta, ferns and Lycopodiales which soon covered the earth
in a dense forest.
Những thực vật đầu tiên xuất hiện từ tảo biển không có khả năng tạo
hạt để sinh sản. Do đó, các bào tử được gió mang đi và khi rơi xuống
đất, chúng tạo ra những giao tử đâm rễ vào trong đất và mọc ra những
tế bào trứng và tế bào đực, những tế bào này kết hợp với nhau để sinh
ra một thực vật mới.
Các bào tử cần có nền đất ẩm và loại thực vật này chỉ phổ biến trong
những vùng đầm lầy và vùng đất thấp ngập nước trong khi những nơi
khô hơn vẫn còn trơ trụi. Một kiểu thực vật phức tạp khác từ những thứ
thực vật khác là tháp bút (Equiseta), dương xỉ (fern) và thạch tùng
(Lycopodiale), nhanh chóng bao phủ mặt đất trong một khu rừng dày
đặc.
Lycopodiale remains form most of the great coal beds of the earth Lycopodia
and other species thrived for a short period and then their trunks were blown
down by storms and gradually piled up and were changed to coal. The
Equiset or horse tails can be seen even today in sandy areas and barren lands.
The horsetails are the last descendants of the calamites which covered the
entire forest in prehistoric times. Nearly twenty five species of horsetails are
found at present in every part of the earth except Southern Asia. These
horsetails were like gigantic trees which in the process of degeneration
became smaller till it reached the dwarf size that we see today.
Những tàn tích của thạch tùng đã tạo thành những vỉa than đá lớn nhất
trên trái đất. Thạch tùng và các loài thực vật khác đã sống sót qua một
giai đoạn ngắn và sau đó thân cây bị gió bão thổi đổ và dần dần tích tụ
lại và biến đổi thành than đá. Cây tháp bút hay cây đuôi ngựa (horse
tail) ngày nay vẫn còn có thể thấy trong những vùng cát và những vùng
đất trơ trụi. Cây mộc tặc là hậu duệ cuối cùng của loài cây lô mộc
(calamite) đã từng bao phủ toàn bộ rừng trong thời kỳ tiền sử. Ngày
nay, có gần hai mươi loài cây mộc tặc đã được phát hiện ở nhiều nơi
trên thế giới, chỉ trừ ở Nam Á. Những cây đuôi ngựa này giống như
những cây khổng lồ mà theo tiến trình thoái hoá đã trở nên nhỏ hơn
cho đến khi đạt đến kích thước lùn nhỏ như ta thấy ngày nay.
The climate during that period, when the algae transformed into land plants,
was favourable; it was quite pleasant climate for the growth of plants. The
little plants gave rise to complex vegetation like the Giant Sigillaria which
were 23 metres high. The Gingko tree is the only survivor of the ancient
group of tree plants.
Flowers marked the last stage of evolution in the plant kingdom. They
appeared nearly 100 million years ago. This was an important landmark in
the evolution of plants. Thus the swarms of pollinating insects soon invaded
the land and gave the forests a new look where mammals had remained
hidden behind these plants for million of year.
Khí hậu trong thời kỳ đó khi tảo biến đổi thành các thực vật trên cạn, là
rất thuận lợi; đó là loại khí hậu rất thích hợp cho sự tăng trưởng của
thực vật. Những thực vật nhỏ đã biến đổi thành thứ thực vật phức tạp
hơn như cây Sigillaria khổng lồ cao đến 23 m. Cây bạch quả (gingko)
là cây duy nhất còn sót lại trong nhóm các thực vật thân gỗ cổ xưa.
Hoa đã đánh dấu giai đoạn tiến hoá cuối cùng trong giới thực vật.
Chúng xuất hiện gần 100 triệu năm trước đây. Đó là một dấu mốc quan
trọng trong sự tiến hoá của thực vật. Theo đó, những đàn côn trùng thụ
phấn hoa đã nhanh chóng xâm lấn mặt đất và tạo cho những khu rừng
một cảnh quan mới nơi mà các động vật có vú đã ẩn mình sau những
thực vật đó trong nhiều triệu năm.
Plants are the only living things on the earth that can make their own food.
Animals are directly or indirectly dependent upon plants. A typical plant is
made up of roots and shoots which include stem, leaves and branches. The
branches bear flowers and fruits.
Thực vật là những sinh vật duy nhất trên trái đất có thể tự tạo ra thức
ăn cho mình. Động vật phụ thuộc trực tiếp hay gián tiếp vào thực vật.
Một thực vật tiêu biểu được tạo thành từ các rễ và các chồi, bao gồm
thân, lá và cành. Các cành mang hoa và quả.
1 Root
Roots provide support to the plant and enable it to hold onto the soil firmly.
They help the plants to absorb water and nutrients from the soil. The tips of
the roots are protected by the root cap and they are deeply rooted in the soil.
Rễ
Rễ tạo ra sự chống đỡ cho thực vật và giúp nó bám chắc vào trong đất.
Rễ giúp cho thực vật hấp thu nước và các dưỡng chất từ đất. Đầu mút
của các rễ được bảo vệ bằng các chóp rễ và chúng ăn sâu trong đất.
2 Stem
Some stems are tender while some are tough. The stem supports the
branches and leaves, and it provides all the ingredients to the plants to
manufacture their food. Stems have a vascular system which consists of two
kinds of tissues- xylem and phloem which carry the necessary roots food and
water prepared by the leaves to other parts of the plant. Xylem is made from
dead woody material and it carries Plant water from the roots to the rest of
the plant. Carbon dioxide enters the plant through the stomata where
photosynthesis takes place and oxygen is released. The water evaporates
through the individual cells below each stoma. Xylem helps in transporting
water and nutrients from the soil to the various parts of a plant. Phloem is
more complex than xylem as it consists of sieve tubes joined together from
one end to another end. It transports the carbohydrates made in leaves to
every living cell in the plant through a process known as translocation.
Phloem cells are able to survive as they are sustained by companion cells
which lie between sieve tube elements. It has a nucleus and a number of
mitochondrias which produce cells energy. The outer wall of the plant cell
consists of a membrane which is selectively permeable. Substance leave and
enter through active transport system.
Thân
Một số thân thực vật mềm yếu trong khi một số khác lại dai chắc. Thân
chống đỡ cho cành và lá, và cung cấp tất cả các thành phần mà thực
vật cần để sản xuất ra thức ăn của nó. Thân có một hệ mạch nhựa bao
gồm hai loại mô xylem và mô libe vận chuyển thức ăn và nước cần thiết
từ rễ, đã được các lá chuẩn bị, đến các phần khác còn lại của thực vật.
Xylem được cấu tạo từ chất liệu gỗ chết và nó vận chuyển nước từ rễ
đến các phần còn lại của thực vật. Carbon điôxit đi vào thực vật qua
các khí khổng, là nơi mà sự quang hợp diễn ra và giải phóng ra ôxi.
Nước bốc hơi qua các tế bào riêng rẽ bên dưới từng khí khổng. Xylem
giúp cho việc vận chuyển nước và các dưỡng chất từ đất đến các phần
khác nhau của thực vật. Mô libe phức tạp hơn xylem vì nó gồm nhiều
ống sàng được nối với nhau từ đầu ống này sang đầu ống kia. Libe vận
chuyển dioxcác carbon hydrát đã được sản xuất trong lá đến từng tế
bào sống trong thực vật thông qua một quá trình được gọi là sự chuyển
vị. Các tế bào libe có thể sống sót vì chúng được duy trì liên tục bởi các
tế bào kèm theo nằm giữa các thành phần ống sàng. Tế bào libe có một
nhân và một số ti lạp thể tạo thành các tế bào năng lượng. Thành ngoài
của tế bào thực vật gồm một màng có tính thấm chọn lọc. Vật chất đi
vào và đi ra thông qua hệ thống vận chuyển tích cực.
3 Leaves
Leaves are the green parts of a plant. They are made up of numerous tiny
packets known as cells. The leaf is attached to the plant by a stalk or a
petiole, and through the mid part of a leaf run veins which not only support
the leaf but also carry water and nutrients to all the cells of the leaf. A leaf is
made up of two parts- an epidermis and a mesophyll. The epidermis is the
outer layer found on the upper and lower surfaces of a leaf while the
mesophyll and parenchyma lie between these surfaces. The leaves help the
plant to make its food through the process of photosynthesis. The leaves
absorb carbon dioxcaùcide from the atmosphere and roots absorb water and
nutrients from the soil; the stem carries the water and nutrients to the leaves,
here with the help of sunlight chlorophyll (a green pigment in the cells of
leaves) converts carbon dioxide and water to produce glucose and release
oxygen as a waste product.
Lá
Lá là những phần màu lục của thực vật. Chúng được tạo thành từ nhiều
gói nhỏ gọi là các tế bào. Lá gắn vào thực vật bằng cọng hay cuống lá
và có những gân lá chạy qua phần giữa của lá. Gân không chỉ để nâng
đỡ lá mà còn vận chuyển nước và các dưỡng chất đến tất cả các tế bào
của lá. Lá được cấu tạo từ hai phần – một lớp biểu bì và phần thịt lá.
Biểu bì là lớp bên ngoài ở các bề mặt bên trên và bên dưới của lá,
trong khi thịt lá là nhu mô nằm giữa các bề mặt đó. Lá giúp cho thực
vật sản xuất thức ăn của nó thông qua một quá trình gọi là sự quang
hợp. Các lá hấp thu nước và các dưỡng chất từ đất; thân vận chuyển
nước và các dưỡng chất đến lá; ở đó, với sự hỗ trợ của ánh sáng mặt
trời, chất diệp lục (sắc tố màu lục trong các tế bào lá) biến đổi carbon
điôxit và nước để tạo ra glucose và giải phóng ôxy như một sản phẩm
thải.
4 Reproductive parts of plants
It is the flowers which carry out the function of reproduction in plants. The
female part of a flower is known as carpel and the male part is known as
stamen. A yellow coloured dust known as pollen is produced by the stamen,
while female cells (ovules) are produced by the carpel. The pollen grains get
carried to the female part by the wind, birds, animals and insects. The entire
process is referred to as pollination. The pollen grain in the ovules fertilises
and it develops into seeds. A seed is a reproductive part which has the
embryo plant and the stored food for the plant. Not all seeds grow into new
plants; only when the conditions are suitable and they are not destroyed by
animals, in-sects or birds do they sprout into new plants. Some of the plants
grow through vegetative propagation like radish, carrot, onion, potato etc.
The vegetative propagation is a way by which some plants can survive the
winters. The part of the plant above the ground dies but it remains alive in
the form of a corn bulb, tuber or rhizome.
Các bộ phận sinh sản của thực vật
Hoa thực hiện chức năng sinh sản trong thực vật. Phần cái của một hoa
được gọi là lá noãn và phần đực được gọi là nhị hoa. Một thứ bụi màu
vàng được gọi là phấn hoa được nhị hoa tạo ra, trong khi các tế bào
cái (các noãn) được lá noãn tạo ra. Các hạt phấn hoa được mang đến
phần cái bởi gió, chim, các động vật và côn trùng. Toàn bộ quá trình
được gọi là sự thụ phấn. Hạt phấn hoa trong các noãn thụ phấn và phát
triển thành các hạt giống. Hạt giống là bộ phận sinh sản có chứa phôi
thực vật và thức ăn dự trữ cho thực vật. Không phải tất cả các hạt
giống đều mọc thành cây; chỉ khi có những điều kiện thích hợp và
không bị hủy hoại bởi các động vật, côn trùng hay chim thì chúng mới
nẩy mầm thành một thực vật mới. Một số thực vật phát triển bằng sự
nhân giống sinh dưỡng như cây củ cải, cà rốt, hành, khoai tây, v.v.
Nhân giống sinh dưỡng là phương thức mà qua đó một số thực vật có
thể sống sót qua mùa đông. Phần thực vật ở bên trên mặt đất chết đi
nhưng thực vật vẫn còn sống ở dạng một củ, thân hay thân rễ.
Another important contribution of plants is that they shape the environment.
They are found everywhere from the tundra to the rainforests, to the deserts
and everywhere except the arctic wastelands. It is the plant which maintains
the terrestrial environment.
Scientists have divided plants into
- Algae
- Mosses and liverworts
- Ferns
- Bryophytes
- Pteridophytes
- Angiosperms
- Gymnosperms
We will discuss them further in this book.
Gradually botanists came to know about more and more plants and they
grouped these plants into various groups. Carolus Linnaeus (1707-78) a
Swedish naturalist was the first scientist to group plants according to the
number and type of stamens and pistils on their flowers. Linnaeus system
gave each plant two names, the first one indicated the genus or the family
while the second one indicated the species or a particular member of the
family. After some years this classification was replaced by a more accurate
one.
Một sự đóng góp quan trọng khác của các thực vật là chúng tạo nên
môi trường. Thực vật có ở khắp mọi nơi, từ các lãnh nguyên cho đến
các rừng mưa nhiệt đới, các sa mạc và bất cứ nơi nào, chỉ trừ những
miền địa cực hoang vu. Chính thực vật đã duy trì môi trường sống trên
mặt đất.
Các nhà khoa học đã phân chia thực vật thành
- Tảo
- Rêu và rêu tản
- Dương xỉ
- Thực vật hạt trần
- Thực vật ngành rêu
- Thực vật không hoa
- Thực vật hạt kín
Chúng ta sẽ bàn kỹ hơn về chúng trong sách này.
Dần dần các nhà thực vật học biết được ngày càng nhiều thứ thực vật
hơn và họ đã nhóm những thực vật này thành nhiều nhóm khác nhau.
Nhà tự nhiên học người Thụy Điển Carolus Linnaeus (1707 -78) là nhà
khoa học đầu tiên nhóm các thực vật theo số lượng và loại lá noãn và
nhụy hoa trên hoa của chúng. Hệ thống của Linnaeus gán cho mỗi thực
vật hai tên, tên thứ nhất để chỉ giống hay họ thực vật trong khi tên thứ
hai để chỉ loài hay một thành viên cụ thể trong họ. Sau vài năm, cách
phân loại này đã được thay thế bởi một cách phân loại chính xác hơn.
5 Can one kind of tree produce the fruit of another kind of
tree?
Yes, by the simple method of grafting, which is a technique of attaching the
part of one plant to another. There are many techniques of grafting from
inserting a single bud under the bark to grafting long twigs across the wound
of a tree so that it heals the wounds on the bark.
Grafting helps produce better quality fruits.
Một loại cây có thể tạo ra quả của một loại cây khác
hay không?
Có, bằng phương pháp ghép đơn giản, là một kỹ thuật để gắn một phần
của một thực vật vào thực vật khác. Có nhiều kỹ thuật ghép cây: từ việc
chèn một chồi đơn vào bên dưới vỏ cây cho đến ghép các nhánh dài
qua vết thương của một cây để làm lành lặn các vết thương trên vỏ cây.
Việc ghép cây cho ra những quả có chất lượng tốt hơn.
6 How Primitive Men Learnt to Grow Plants?
The primitive men living on the Earth did not know how to grow plants.
Thus they spent the entire day hunting or gathering fruit and seeds which
ripened naturally in the forests. During summer season plenty of fruits and
seeds were available while during winter there were plants which had no
fruits. Later on, man discovered that there were other plants which can save
him from starvation. These were woodland plants with dry fruits which
didn't wither away in winter e.g. hazel trees, chestnuts, oak and walnuts.
Many of these types of trees have been found in the lake settlements which
revealed that these fruits were important for primitive man. During early
times the cave dwellers only gathered barley and wheat which grew in the
forests. As these foods could be kept for longer duration, they took these
cereals along with them while wandering through the woods, but before
proceeding for a journey they always scattered a few grains to impress the
almighty. After winter when they went back to the places where they had
stayed earlier they were astonished to see that the grains had risen into new
plants. Thus they learnt how to grow new plants. Thus cultivation of corn
started.
Con người nguyên thủy đã học cách trồng cây như thế
nào?
Những người nguyên thuỷ sinh sống trên trái đất không biết cách trồng
cây. Do đó họ đã bỏ ra cả ngày để săn bắt hay hái lượm quả hay hạt
chín tự nhiên trong những khu rừng. Vào mùa hè có nhiều quả và hạt
trong khi vào mùa đông, các thực vật không có quả. Về sau, con người
đã phát hiện ra rằng có những thứ thực vật khác có thể giúp cho họ
khỏi bị đói. Đó là những thực vật mọc trong rừng có quả khô không bị
héo quắt vào mùa đông chẳng hạn như là hạt phỉ, hạt dẻ, sồi và hạt óc
chó. Nhiều loại cây này đã được tìm thấy trong những vùng định cư bên
hồ, cho thấy rằng những thứ quả này là quan trọng đối với con người
nguyên thủy. Trong những thời kỳ đầu, người sống trong hang chỉ có
thể hái lượm lúa mạch và lúa mì mọc trong rừng. Vì những thực phẩm
này có thể được lưu giữ trong thời gian dài, họ đã mang theo các hạt
ngũ cốc này bên mình khi đi lang thang qua những khu rừng, nhưng
trước khi bắt đầu một chuyến đi, họ thường vung vãi một ít hạt để nhớ
ơn Thượng đế. Sau mùa đông, khi họ quay về nơi chốn cư trú trước đó,
họ ngạc nhiên vì thấy các hạt ngũ cốc đã mọc lên thành những cây mới.
Từ đó họ đã học được cách trồng những cây mới. Việc trồng trọt hoa
màu đã bắt đầu từ đó.
INTERESTING FACT
Sự kiện đáng chú ý
The art of bonsai - Bonsai is the art of keeping a tree to a dwarf size.
This art originated in China nearly 1000 years ago but was made
popular by the Japanese. Bonsai is a Japanese word meaning 'tray
plantation'. Bonsai pots are usually earthen ware.
Nghệ thuật bonsai
– Bonsai là nghệ thuật nuôi giữ cây với một kích thước thu nhỏ. Nghệ
thuật này có nguồn gốc từ Trung quốc gần 1000 năm trước đây, nhưng
đã trở nên phổ biến ở Nhật. Bonsai là một từ tiếng Nhật có nghĩa là
“trồng trong khay”. Những chậu Bonsai thường là chậu bằng đất nung.
CHÚ THÍCH TỪ VỰNG
Tiny creepers:những loài cây leo nhỏ li ti
Flagellate:tảo đuôi roi
Plants and animal cells:tế bào thực vật và
động vật
Algae:tảo
Marshy regions:những vùng đầm lầy
Equiset:cây tháp bút
Gingko tree:cây bạch quả
Stomata:khí khổng
Photosynthesis:sự quang hợp
Translocation:sự chuyển vị
Mitochondrias:ti lạp thể
Pollination:sự thụ phấn
Techniques of grafting:kỹ thuật ghép cây
BACTERIA, LICHENS, ALGAE, AND FUNGUS
VI KHUẨN, ĐỊA Y, TẢO VÀ NẤM
7 Bacteria
Bacteria are minute organisms and the lowest members of the plant
kingdom. They are nearly 0.0001 millimeters in diameter. Some of them are
so small that they cannot be seen without the help of a microscope. Bacteria
has no membrane with an enclosed nucleus mitochondria or chloroplasts. It
has a single chromosome. Bacteria is usually found in one of the three
shapes
- coci -the ball shaped
- bacilli -the rod shaped
- spirilla - the cork screw
Under favourable conditions, they reproduce by splitting into two. Bacteria
are single-cell organisms which bring about decay in dead plants and
animals and break them into simple compounds. Bacteria are found
everywhere, even in our bodies and it cannot be seen with the naked eye.
Certain bacteria are very useful as they cause fermentation and help the milk
to curdle.
They combine with nitrogen and other elements to make some useful compounds for plants. Vinegar and certain antibiotics are also prepared from
bacteria. Thus we see that they are both useful as well as harmful to us.
Vi khuẩn
Vi khuẩn là những sinh vật nhỏ và là những thành viên bậc thấp nhất
trong giới thực vật. Vi khuẩn có đường kính khoảng 0.0001 milimét.
Một số loại vi khuẩn nhỏ đến mức chỉ có thể nhìn thấy chúng qua kính
hiển vi. Vi khuẩn không có màng tế bào với một nhân ti lạp thể hay lạp
lục đóng kín. Nó có một nhiễm sắc thể đơn. Vi khuẩn thường được thấy
ở một trong ba dạng:
- Cầu khuẩn (coci) – dạng hình cầu
- Trực khuẩn (bacilli) – dạng hình que
- Xoắn khuẩn (sourilla) – dạng hình xoắn
Trong những điều kiện thuận lợi, chúng sinh sản bằng cách chia tách
thành hai. Vi khuẩn là những sinh vật đơn bào gây thối rữa và làm chết
các thực vật và động vật rồi phân cắt chúng thành những hợp chất đơn
giản. Vi khuẩn có ở khắp mọi nơi, ngay cả trong cơ thể của chúng ta và
nó không thể được nhìn thấy được bằng mắt thường. Một số loại vi
khuẩn rất có ích vì chúng gây ra sự lên men và giúp làm đông sữa.
Vi khuẩn kết hợp với nitơ và các nguyên tố khác để tạo ra một số hợp
chất hữu ích cho các thực vật. Giấm và một số kháng sinh cũng được
điều chế ra từ vi khuẩn. Do đó, ta thấy rằng vi khuẩn vừa có ích vừa có
hại cho chúng ta.
8 Lichens
Lichens are unusual creations as they are not a single organism but a
combination of algae and fungus. They live together, the algae is enclosed
inside a fungus. Since algae has chlorophyll, with the help of sunlight it is
able to make its food which is used even by fungus. The fungus provides
anchorage to algae so that it easily absorbs the nutrients and water. Lichens
mostly live on rocks, walls and trunks of the tree. This partnership of fungus
and algae is known as symbiosis.
Địa y
Địa y là những tạo vật khác thường vì chúng không phải là một sinh vật
riêng biệt mà là một tổ hợp của tảo và nấm. Chúng sống cùng nhau, tảo
được bao bọc bên trong nấm. Vì tảo có diệp lục tố, với sự hỗ trợ của
ánh nắng mặt trời nó có thể sản xuất ra thức ăn cho cả nấm sử dụng.
Nấm cung ứng nơi neo đậu cho tảo để tảo có thể hấp thu dễ dàng các
dưỡng chất và nước. Địa y sống chủ yếu ở trên đá, trên các bức tường
và các khúc cây. Sự cộng tác giữa nấm và tảo được gọi là sự cộng sinh.
9 Algae
Algae are a diverse group of primarly aquatic plant like organisms which
were previously classified as a primitive subkingdom of the plant kingdom
called the 'thallophytes'. But at present they have been classified into another
major group known as 'eukarya' which includes animals and the higher
plants. Algae have chlorophyll and can manufacture their own food through
photosynthesis. They are found in polluted water, in seas, rivers and lakes,
on soils and walls, in animals and plants; in fact everywhere. The simplest
algae are single cells. The more complex one co-sists of many cells grouped
in a colony which is spherical in shape, e.g. Volvox.
Seaweeds are algae that are found in the sea or brackish water. Seaweeds are
of three basic colours- red, brown and green. Most seaweeds remain
submerged under the sea but during the low tides they are exposed to the
sun. Seaweeds use the energy of sun to carry on the process of
photosynthesis which helps them to oxygenate the water.
Algae are usually fish food, and they also supply oxygen to water through
photosynthesis.
Tảo
Tảo là một nhóm đa dạng các thực vật chủ yếu sống ở nước như những
sinh vật vốn trước đây được phân loại thành một giới phụ gọi là “ thực
vật có tản” (thallophytes). Nhưng hiện nay, chúng được phân loại vào
nhóm chính gọi là “eukarya” gồm các động vật và thực vật bậc cao
hơn. Tảo có diệp lục tố và có thể tự sản xuất ra thức ăn cho mình thông
qua sự quang hợp. Tảo được tìm thấy trong nước bị ô nhiễm, trong
biển, sông và hồ, trên đất, trên các bức tường, trong các động vật và
thực vật; trong thực tế là ở khắp mọi nơi. Loại tảo đơn giản nhất là tảo
đơn bào. Những loại tảo phức tạp hơn gồm nhiều tế bào được nhóm lại
thành một quần thể có dạng hình cầu chẳng hạn như tảo Volvox. Rong
biển là tảo được thấy ở biển hay những vùng nước mặn.
Rong biển có ba màu cơ bản là đỏ, nâu và lục. Hầu hết rong biển đều
ngập chìm trong nước nhưng vào những lúc thuỷ triều xuống, chúng
phơi ra ánh nắng. Rong biển sử dụng năng lượng của mặt trời để thực
hiện quá trình quang hợp giúp chúng thải ôxy vào nước.
Tảo thường là thức ăn cho cá và chúng cũng cung cấp ôxy cho nước
thông qua sự quang hợp.
10 Fungus
Fungus or Fungi include some of the most important organisms which play a
vital role in maintaining the...
 
Sách là sợi dây liên kết giữa các thế hệ và giữa các nền văn minh.
I. THỜI GIAN, ĐỐI TƯỢNG MƯỢN SÁCH VÀ ĐỌC SÁCH TẠI THƯ VIỆN
1. Thời gian làm việc: Theo giờ hành chính ( từ thứ 2 đến chiều thứ 6 hàng tuần)
+ Sáng làm việc từ: 7h30’ đến 11h00’
+ Chiều làm việc từ: 13h45’’ đến 17h00’
2. Đối tượng mượn sách:
Giáo viên và học sinh của trường có quyền mượn sách tại thư viện.





